Tháng Năm 4, 2021
Sự tҺực về kҺo vànǥ ở Sầm Sơn: Cứ tҺả ʟưới xᴜống Ƅiển là ʋớt được vànǥ

Sự tҺực về kҺo vànǥ ở Sầm Sơn: Cứ tҺả ʟưới xᴜống Ƅiển là ʋớt được vànǥ

Hơn 60 năm trước, tại hai làng Thủ Phú – Hải Nhuận, nay thuộc địa phận duyên hải ba xã Quảng Hải, Quảng Đại, Quảng Hùng huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, cách Sầm Sơn 5 km về phía Nam, đã xảy ra một sự kiện mà hồi đó được coi là làm chấn động cả nước. Đó là vụ tình cờ phát hiện ra một kho báu chìm dưới đáy biển.

Cũng vì thế nên báo chí đương thời, từ tờ nhật báo lớn nhất: Đông Pháp, tờ báo có uy tín lớn ở Trung Kỳ : tờ Tiếng Dân đến nhiều báo chí khác như Nam Phong, Phụ nữ Tân Văn, Trung Bắc Tân văn, Thực nghiệp dân báo, Ngọ báo… cả báo chí tiếng Pháp như Bulletin administratif de l’ Annam ( Tập san hành chính Trung Kỳ), Bulletin de la Sociéte de l ‘ Enseignement mutuel du Tonkin ( Tập san Hội Tương tế giáo dục Bắc kỳ), Bulletin de l’ école Francaise d’ Extreme Orient ( Tập san trường Viễn Đông Bác Cổ) … đều có đề cập đến dưới nhiều dạng: đưa tin, tường thuật, bàn luận.

Một phát hiện tình cờ

Sự việc xảy ra đích xác vào ngày tháng nào và ở đâu? Phóng viên tờ Đông Pháp, sau một chuyến đi chật vật, vất vả vì sự canh gác, kiểm soát, ngăn chặn của chính quyền, đã có mặt tại chỗ vào lúc tình hình căng thẳng nhất đưa tin sự việc xảy ra vào đêm 17 rạng ngày 18 tháng 7 âm lịch tức là ngày 26, 27 tháng 8 – 1934 (1). Ông phóng viên nào đó đã nhầm. Đúng ra không phải nhầm, mà ông ta bị dân sở tại đánh lừa. Lý do rất đơn giản : thu ngắn khoảng thời gian dân chài đã phát hiện ra kho vàng, để giảm tội vì không báo kịp thời với nhà đương cục.

Theo một nguồn tư liệu đáng tin cậy là điều ghi nhận của dân qua bài vè “Được vàng” khá phổ biến, mở đầu bằng hai câu :

“Tuất niên, thu thất nguyệt rằm

Rung kêu, gió thổi ầm ầm bên tai” (2)

Ta biết chính xác đó là ngày rằm tháng 7 mùa thu năm Giáp Tuất, tức ngày 24 – 8 – 1934.

Còn địa điểm được vàng? Báo chí có khi nói là biển Thủ Phú, có khi nói là biển Hải Nhuận, cũng có báo ghi là vùng biển Sầm Sơn. Ghi vùng biển Sầm Sơn có lẽ là vì để dễ nhận biết với mọi người qua địa danh Sầm Sơn nổi tiếng cách đấy không xa. Cũng như nhà văn Tchya tên thật là Đái Đức Tuấn, người Quảng Xương đã nhân sự kiện này, hư cấu nên mối tình sử qua cuốn tiểu thuyết “Kho vàng Sầm Sơn” xuất bản vào những năm 1940 – 1941, được tái bản gần đây, khá quen thuộc với mọi người, còn ghi là biển Thủ Phú hay Hải Nhuận đều có cái đúng của nó.

Làng Thủ Phú từ đầu thế kỷ XIX có tên là làng Phú Xá, thuộc tổng Thủ Hộ (3), vốn là một làng có bề ngang hẹp, trải dài dọc theo ven biển thuộc các xã Quảng Hùng, Quảng Đại, Quảng Hải ngày nay, nguyên là một trong những sở đồn điền thời Lê trên đất Quảng Xương. Tên Hải Nhuận chưa thấy có ở đầu thế kỷ XIX. Đó là một làng mới đặt vào đầu thế kỷ XX, cũng như làng Yên Nam, đều tách ra từ làng Phú Xá. Cùng với sự chia tách này, phần Phú Xá còn lại đổi là Thủ Phú, tiếp đến Hải Nhuận, Yên Nam kể từ phía Bắc xuống. Tuy vậy tên Phú Xá vẫn còn được gọi song song với tên Thủ Phú cho đến ngày nay. Người phát hiện ra kho vàng là cư dân làng Thủ Phú, còn địa điểm phát hiện là biển Hải Nhuận, giáp ranh với Thủ Phú. Chính vì vậy, sau khi thẩm định rõ ràng, văn bản chính thức của Nam Triều ghi “Tìm thấy ở làng Hải Nhuận”. Trong quá trình sáp nhập, chia tách xã, từ xã lớn đến xã nhỏ, làng Thủ Phú cắt về hai xã cũng như làng Hải Nhuận. Vì vậy, người phát hiện ra kho vàng và địa điểm phát hiện này đều thuộc xã Quảng Đại. Điểm phát hiện ở cách bờ khoảng 300 – 400 m, khi thủy triều xuống ở độ sâu khoảng 2 sải tay, khi triều dâng khoảng trên 5m.

Theo lời kể của bài vè kết hợp với lời tường thuật của báo chí đương thời, vào ngày rằm tháng 7 năm Giáp Tuất (1934), ông Nguyễn Bá Chưởng 72 tuổi cùng con trai là Nguyễn Bá Phèn 51 tuổi đi biển thả câu. Vì thiếu mồi câu, ông trở về lấy lưới của người con thứ hai là Sinh đi đánh cá tiếp :

“Bể thì sóng một sóng hai

Ông Phèn câu đánh thiếu vài mồi cua

Trở về lấy lưới Sinh Kho

Đem ra kéo chẳng lên cho lạ lùng”(5)

Cho đến non trưa, sau nhiều mẻ lưới không được cá, bố con ông tính chuyện về sớm để cúng rằm. Nhưng không hiểu vì sao, mẻ lưới cuối cùng bị vướng mắc dưới biển không tài nào kéo lên được. Ông đành bỏ lại, về nhà sai người con rể ra mò lặn :

“So ra chàng rể ở xa

Tiến, Cự Nham (6) bên nhà hiền tế tài ghê

Sai mau ra lặn lưới về

Tiến vừa lặn xuống tức thì lên ngay

Vội vàng lên nói với thày :

Giữa vuông niêm cẩn, bốn giây vững vàng

Bốn bên bốn cọc còn đang

Cạy ra chưa biết bạc vàng là đâu”

Ông Chưởng biết là có chuyện lạ, hay dở khôn lường. Ông bình tĩnh cúng rằm, sau đó tìm đến thày bói. Ông thày gieo quẻ:

“Gia rẳng 9 lễ thì của đến tay”.

Ông bèn đem lễ vật vượt quãng đường mòn qua nhiều cồn cát ra biển, thắp hương khấn vái cầu xin trời đất, thủy thần phù hộ. Hương đã tàn, ông cùng các con chở bè ra chỗ lưới bị vướng mắc. Bố con ông lặn xuống. Đúng như lời con rể báo, đó là một hòm lớn. Loay hoay, mò mẫm, cạy mở đập phá, vật đầu tiên phát hiện là tiền đồng. Ông huy động con, cháu, dâu, rể đem ‘ rổ sảo’ xúc đổ lên bè. Tiếp theo là vàng nén, bạc nén và nhiều vật quý khác.

Ông lặng lẽ giữ kín được 3 ngày đêm thì việc bị lộ. Dân chài các nơi, ngoài người làng sở tại, còn có cả Đồn Điền, Cự Nham đều ở ven biển Quảng Xương đổ về Thủ Phú, Hải Nhuận để lấy của. Theo lời tường thuật của báo chí thời đó, tiền đồng có niên hiệu Cảnh Hưng (7), các thỏi vàng đều đúc hình con bài dày khoảng 12 ly, mặt trên lòng máng, xung quanh chạm một đường chỉ, mặt dưới phẳng, một đầu có khắc hai chữ “Thập lượng” ( 10 lạng) ; cạnh bên một đầu khắc số hiệu “thập tức”, “thập thất”, ‘thập nhị”…, một đầu khắc chìm hai chữ “Bính Tuất”, còn một đầu có chữ “Đức”. Người ta phỏng đoán là năm đúc và tên người thợ đúc. Mỗi nén vàng cân nặng từ 0,6 đến 0,62 kg. Bạc nén kích thước lớn hơn, không có chữ, ngâm lâu dưới biển nên đã xỉn mầu. Ngoài vàng, bạc, tiền còn có một cái ngai ( có người nói là kiệu), một đôi kiếm, hai khẩu súng…tất cả đều nạm vàng bạc.

Sau khi hòm bị phá, vàng bạc, báu vật tung tóe tản mạn dưới làn nước biển xao động. Ngư dân thi nhau mò tìm rải rác trong nhiều ngày đêm từ 17 đến 24 tháng 7 âm lịch tức từ ngày 26 – 8 đến ngày 3 – 9 – 1934. Trong những ngày đêm này, vùng làng quê Thủ Phú – Hải Nhuận nô nức như ngày hội. Ngoài biển, thuyền bè tập trung san sát. Trên bờ dân trong vùng rủ nhau ra xem, mua bán tấp nập. “Quang cảnh nơi được vàng rất là náo nhiệt” (8)

Người được vàng cũng không biết giá cả, bởi vì quanh năm lam lũ với chài lưới, vật lộn với sóng gió lo kiếm đủ ngày hai bữa cho vợ con, có bao giờ biết đến nén vàng, nén bạc. Còn người dân trong vùng đem gạo trắng, thịt ngon đến bán chác, đổi lấy vàng bạc. Theo tường thuật của báo chí, một nén vàng lúc đầu chỉ đổi lấy 10 mũng thóc ( khoảng 60 kg gạo), một nén bạc 10 mũng khoai lang khô. Còn rượu ngon, ba chai đổi được một vác tiền đồng (9). Lúc này người ta chỉ tính đến vàng và các báu vật khác, còn bạc và tiền, nhất là tiền thì không đếm xỉa tới, tiêu pha phung phí, bạt mạng. Vì vậy người dân trong vùng trồng lúa, có khi cả đời không lội xuống biển, cũng được dịp bán sản phẩm nông nghiệp với giá hời chưa từng thấy.

Vài ngày sau khi phát hiện, một số nhà buôn vàng ở Thanh Hóa đến mua. Lúc đầu với giá 20 đồng bạc Đông Dương một nén, sau lên dần 30,40,50,60 và cuối cùng 400 – 500 đồng. Trong khi đó theo thời giá, mỗi nén 620 đồng.

Tai họa ập đến

Nhưng rồi ngày hội được vàng nhộn nhịp với niềm vui sướng đến ngỡ ngàng chỉ kéo dài được một tuần. Sáng ngày 25 tháng 7 tức 3 – 9 – 1934, theo Đông Pháp (10) cũng vì ghen ăn, có một người tên là Phó Th. Ở cách làng đem mấy thỏi vàng và bạc đến trình báo quan. Tri huyện Lê Dục Hinh phải bẩm lên tỉnh. 3 giờ chiều cùng ngày, công sứ Colas cùng Tổng đốc Nguyễn Bá Trác và án sát Tôn Thất Toại đi ô tô về tận nơi tra xét. Lập tức, lý dịch sở tại bị triệu đến, bắt khai số dân chài trong làng đã mò vàng, số lượng vàng mò được và đã bán cho những ai. 6 giờ chiều hôm đó có lệnh bủa vây. Đầu tiên là toán lính khố xanh do tên quan một Brutus đồn Phong Ý ( huyện Cẩm Thủy) chỉ huy trực tiếp canh giữ biển Hải Nhuận – Thủ Phú. Chúng cắm tiêu ở chỗ giữ được vàng, cấm không cho ai được tới gần. 10 giờ đêm, viên phó Đoan và viên Chánh cẩm (đều không rõ tên) đem lính về đóng suốt dọc đường từ Chợ Môi đến Thủ Phú – Hải Nhuận để khám xét người qua lại (11).

Lính Khố Xanh & Khố Đỏ - Tạp chí Đáng Nhớ

Lính khổ xanh (Minh họa)

Người ngoài đến có đem theo tiền bạc bị đuổi về ; người trong ra bị khám rất ngặt, lục soát khắp người, có vàng bạc đều bị tịch thu hết. Chúng còn cho lập 3 trạm gác chốt ở 3 điểm đầu mối giao thông quan trọng đến nơi được vàng : Chợ Môi ( cây số 9), Bình Hòa ( cây số 14 đường Thanh Hóa – Sầm Sơn) và Ngọc Giáp ( quốc lộ 1, cây số 19 cách thành phố Thanh Hóa về phía Nam). Ngoài ra, chúng còn đặt điếm canh ở Thủ Phú, Hải Nhuận, Đồn Điền, Cự Nham và Nho Quan. Thế là cuộc vây ráp, lùng sục, khám xét, tra hỏi, săn vàng của nhà cầm quyền bắt đầu.

Đồng thời với việc săn lùng trên đất liền, chúng khẩn trương tiến hành việc tìm kiếm số vàng còn lại dưới đáy biển. Ngay từ ngày 4 – 9 – 1934, công sứ Colas đã thuê 20 người thuyền chài chia làm 4 toán lặn xuống mò trong 3 ngày liền chỉ thu được 1 nén bạc và 3 đồng tiền. Ngày 10 – 9 có 3 thợ lặn ở Nha Trang, thủy thủ của Tàu De Lanessan do công sứ Colas điện vào và thợ lặn ở Hải Phòng đều có mặt, tiếp tục lặn tìm trong nhiều ngày cũng không thấy gì hơn ngoài mấy đồng tiền (12). Ngày 19 – 9, Colas bắt bố con ông Chưởng ( lúc này đã được tạm tha) lặn mò nhưng cũng vô hiệu (13).

Được tin phát hiệu kho báu, trường Viễn Đông Bác Cổ ở Hà Nội đã phái ông Manikus và ông Công Văn Trung vào xem xét. Tiếp theo, quyền giám đốc trường Claeys cũng có mặt vào ngày 9 – 9 ( 1 tháng 8 âm lịch) để nghiên cứu về mặt khảo cổ học của các di vật phát hiện được (14). Việc tìm kiếm thêm báu vật còn lại dưới biển do nhà đương cục tiến hành hoàn toàn thất bại, chấm dứt từ sau ngày 20 – 9 (ngày 12 – 8 âm lịch). Trong khi đó trên đất liền diễn ra cuộc săn lùng, khảo xét hãi hùng mà nạn nhân trực tiếp là dân chài hai làng Thủ Phú và Hải Nhuận.

Sau khi bắt lý dịch sở tại khai báo, chúng cho dựng một nhà rạp trên bờ biển, có lính tráng cắp súng và chó berger canh giữ. Công sứ Colas hạ lệnh đòi kỳ mục các làng đến nghe hiểu dụ. Lệnh của công sứ là vậy nhưng cũng chỉ có 20 người, chủ yếu là lý dịch sở tại và mấy làng lân cận có mặt. Công sứ Colas nói đại ý : Những vật tìm thấy ở đây đều thuộc về Nam Triều, tuy vậy nhà nước cũng không để cho những người phát hiện bị thiệt thòi. Những ai đã mò được ít nhiều đều phải đem ra nộp, nhà nước sẽ thưởng cho một nửa. Nhận được vàng, quan sẽ đưa giấy biên nhận có ký tên để làm bằng. Tiền chưa có ngay nhưng không thể mất được. Ngoài vàng bạc, các vật khác cũng vậy. Colas dằn từng tiếng nói với tổng lý: “Có người tố cáo ông huyện sở tại mấy ngày trước đây dọa dẫm ai khai báo thực số vàng đã đem bán hoặc mò được thì ông chém đầu. Lời dọa nạt đó không có gì đáng sợ vì ông huyện không có quyền hành làm việc này. Hiện nay ông huyện đã về tỉnh, ít nữa sẽ có người khác đến cai trị, dân không còn phải sợ hãi mà không dám khai thực. Dân khai thực ra thì bao giờ quan Công sứ cũng che chở cho”. (15).

Nguồn: http://vn.tintuc360.world/su-thuc-ve-kho-vang-o-sam-son-cu-tha-luoi-xuong-bien-la-vot-duoc-vang-20200110.html

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *